Bệnh viện Tâm thần Tỉnh Nam Định - Nam Dinh Psychiatric Hospital | Tin tức | Thông tin Y học | Lịch sử phát triển ngành Tâm thần học thế giới
Trang chủ Albums Gửi bài Liên hệ Tìm kiếm Thăm dò dư luận
  CÁC CHUYÊN MỤC
  Giới thiệu Bệnh viện
  Tin tức - Sự kiện
  Khám chữa bệnh
  Chỉ đạo tuyến
  Phổ biến kiến thức
  Thông tin Y học
  Nghiên cứu khoa học
  Thể thao văn hoá
  Văn bản pháp quy
 Đăng nhập/Đăng ký 
Bí danh
Mật khẩu
Ghi nhớ
 Thành viên có mặt 
 Khách: 001
 Thành viên: 000
 Tổng cộng 001
 Hits 000228245
IP của bạn: 54.234.247.118
 Liên kết 


















 
Tin tức » Thông tin Y học 15.12.2017 10:44
Lịch sử phát triển ngành Tâm thần học thế giới
12.07.2011 09:12

Xem hình
Từ "Tâm thần học" đã được sử dụng gần 200 năm nay nhưng theo sử sách ghi chép lại thì trong thực tế người ta đã phát hiện và điều trị bệnh tâm thần ngay từ thời xa xưa. "Điên loạn" luôn là chủ đề cực kỳ hấp dẫn.

Thời xa xưa được ghi lại ở kinh cổ Ayur Veda của người Hindu vào thế kỷ XIV trước công nguyên mô tả người đàn ông điên loạn, háu ăn, bẩn thỉu, trần truồng, không có trí nhớ và đi đứng khó khăn. 

Trong kinh Cựu Ước_sách của Daniel viết 700 năm trước Công nguyên, người điên là người bị tước quyền làm người, ăn cỏ như bò, tóc mọc như lông vũ, bàn tay, bàn chân có móng như móng chim. 

Hippocrates_người được coi là ông tổ của nền y học thế giới thế kỷ thứ IV trước công nguyên đã mô tả về bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực ( trước đây gọi là bệnh Hưng cảm chu kỳ), ông cho rằng đó là sự mất thăng bằng của thể dịch với sự tác động của môi trường. Ông còn mô tả bệnh rối loạn phân ly như là hậu qủa sai lệch vị trí cổ tử cung ( tử cung cổ lộn ngược nên tỏa âm khí lên đầu) gây rối loạn thất thường về tính cách, chính vì vậy mới có từ Histeria ( Histerine: tử cung, erie: thoát vị) gán cho rối loạn này, mà tới nay người ta vẫn còn gọi. 

Một người Hy Lạp khác là Galem, hành nghề ở Rome ở thế kỷ thứ II sau Công nguyên cũng tiếp tục quan điểm thể dịch trên và đã mô tả trầm cảm là do thừa mật đen nên dùng Melancolie (melan: đen, colie: mật). Ngày nay, từ này vẫn còn được dùng mà người ta gọi là "sầu uất". 

Trong thời kỳ Trung cổ, do quan niệm điên loạn là 1 bệnh nên thái độ ngược đãi bệnh nhân có nơi, được giảm bớt mặc dù đại đa số vẫn cho là ma làm, qủy ám. Những người bệnh được đến cho các tu sĩ trị bệnh tâm thần bằng bỏ đói và bỏ vào cối xay quay. Một vài tư liệu ở thời kỳ này còn cho rằng tội lỗi là nguyên nhân gây ra bệnh tâm thần. Vì vậy, sự trừng phạt thường xảy ra ngay cả với những người ngoan đạo nhất. Cuối thế kỷ thứ XIX, nhà thờ còn hành hình bệnh nhân tâm thần như hành hình phù thủy. 

Nhưng lúc này thì đã có sự tham gia, can thiệp của các thầy thuốc với tuyên bố là bệnh tâm thần có thể chữa trị được. Roth và Kroll trong tác phẩm: " Sự thật của bệnh tâm thần” đã mô tả người bệnh tâm thần thời kỳ này là"...người khốn khổ, đi lang thang khắp làng, xã, rừng rú, bị đưa từ nhà này sang nhà khác, khi nào bị kích động qúa thì bị trói lại...". Nhưng đồng thời tác giả đã nhấn mạnh "...lúc này, về mặt lý thuyết cũng như thực hành y khoa người ta đã xem bệnh nhân tâm thần như những người mắc bệnh nội khoa..." 

Việc chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân tâm thần trở nên nhân đạo hơn, bác ái hơn nhờ quan điểm nhận thức cho rằng bệnh tâm thần có căn nguyên thực tổn. Bệnh tâm thần dần dần trở thành 1 bộ phận của ngành Y. 

Đặc biệt, trong dòng thác của Cách mạng dân chủ tư sản Pháp (1789), Philippe Pinel đã vào nhà ngục Battie cởi trói cho bệnh nhân tâm thần, đưa họ về bệnh viện điều trị và chăm sóc. Từ đó mở ra 1 thời kỳ "Tâm thần học nhân đạo". Các nhà văn nổi tiếng của thời kỳ này như Balzac trong tác phẩm "Louis Lambert", Gogol trong "Nhật ký người đàn bà điên", Maupassant trong "Horla" đã mô tả đời sống người điên 1 cách sinh động đáng thương, đáng quan tâm.

Philippe Pinel

(1745-1826)

Những biến động XH ở Châu Âu từ thế kỷ XVIII-XIX đã đẩy dân nghèo ra khỏi mảnh đất của mình, nền công nghiệp hóa lôi kéo họ từ nông thôn về thành phố gây ra sự qúa tải dân số ở các đô thị, môi trường bị suy thoái, thất nghiệp và những cấu trúc hỗ trợ truyền thông của nông thôn ( gia đình, dòng họ, tập quán, phong tục, lễ nghi…) không còn nữa. Các chính quyền bắt đầu xây dựng công xưởng, nhà ở cho người nghèo, nhà tù, nhà thương điên…để đối phó với những yêu cầu và nguy cơ cấp bách như: tội phạm, thất nghiệp, nghèo đói và bệnh tật. Như vậy nhà thương điên ban đầu là cơ sở của nhà nước, nó lập ra để đáp ứng nhu cầu 1 loại đối tượng bị thiệt thòi trong XH. 

Hỗn loạn và suy đồi trong đời sống đô thị, cảm xúc căng thẳng ở gia đình được xem là những kích thích có hại gây ra bệnh tâm thần ngày 1 tăng. Nhà thương điên là nơi ẩn náu để tránh những tác động này, chúng thường được xây dựng ở ngoại ô, hay ở vùng nộng thôn yên tĩnh. Người ta tin rằng sự tĩnh lặng của đồng quê, những nhịp điệu bất tận của công việc đồng án đơn giản, sự tiếp cận với thiên nhiên tạo 1 cảnh yên bình có tác dụng trị liệu những cảm xúc đau khổ của người bệnh. Tuy nhiên, những cách trở này cũng gây cách trở cho việc thăm viếng của gia đình, dễ gây tâm lý ỷ lại, ủy thác bệnh nhân cho bệnh viện. Và ngày nay, điều đó còn trở ngại không thu hút được nhân lực, người có trình độ chuyên môn caotới phục vụ bệnh nhân cũng như việc phối hợp giữa bệnh viện tâm thần với các cơ sở y học khác trong việc khám bệnh, chẩn đoán và chữa trị cho bệnh nhân. 

Vì vậy, mặc dù được hình thành với 1 mô hình lạc quan nhưng hầu hết các nhà thương điên thời đó mau chóng đắm chìm trong vòng xoáy vô vọng và bi quan. Các cơ này thiếu nhân tài, vật lực, kinh phí để phát triển và nhanh chóng bị qúa tải, tạo ra 1 sức ép nặng nề, thay vì tạo nên 1 nơi chăm sóc điều trị, chúng trở thành 1 nơi giam nhốt nặng nề, nơi mà nạn suy dinh dưỡng, bệnh nhiễm trùng đặc biệt là bệnh lao, bệnh lỵ hoành hành. Do khuất mắt, các cơ sở này không được sự quan tâm của công chúng và nhà chức trách. “Những ngôi nhà buồn tủi trên đồi” trở thành 1 dấu ấn kinh khủng trong lòng người đời, thành biểu trưng của nỗi sợ hãi đối với bệnh tâm thần, góp phần tạo 1 ấn tượng xấu, kéo dài mãi cho tới hôm nay. Hiện tượng xảy ra đó làm công chúng xa lánh bệnh nhân tâm thần, làm cho người ta sẵn sàng xua đuổi người bệnh có khi đến suốt đời. Ở ta, mặc dù ngày nay các bệnh viện tâm thần đã được cải thiện rất nhiều nhưng mà ở Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và ở đâu đó…mỗi khi có người trái tính nết hay có gì không vừa lòng với nhau người ta vẫn nói những câu ám chỉ, khinh miệt:“ Cho mày đi Châu Qùy (BV tâm thần Hà Nội), “đi làng Đông Khê” (BV tâm thần Hải Phòng), đi Biên Hòa (BV tâm thần trung ương II), đi Thường Tín (BV tâm thần trung ương I), đi Chợ Quán (BV tâm thần TP.HCM)…là những nhà thương điên hay bệnh viện tâm thần ở nước ta đã ra đời trong trào lưu đẩy bệnh viện tâm thần ra ngoại ô, ra nơi yên tĩnh nói trên. 

Từ thời Phục Hưng, người ta đã nghĩ đến các bệnh tâm thần là do thoái hóa não gây nên, đến thế kỷ XIX nó càng được củng cốnhờ các tiến bộ của ngành bệnh lý học. Đặc biệt, năm 1822 Antoin Bayle phát hiện tổn thương não trong giang mai thần kinh. Năm 1820, Alois Alzheimer đã xác định được những tổn thương của mất trí tuổi già. Nhưng cũng do qúa vội bằng lòng với những nhận xét về qúa trình thoái hóa mà Benediet Morel (Pháp), Kraepelin (Đức) đã vội vàng gọi bệnh Tâm thần phân liệt là bệnh sa sút sớm. Đến năm 1911, Eugen Bleuler (Thụy Sỹ) nhận thấy ở loại bệnh đó diễn ra qúa trình cơ bản là tan rã phân liệt giữa các chức năng tâm lý của đối tượng và của họ với XH. Vì vậy, đã đưa ra tên gọi Tâm thần phân liệt_đến nay vẫn dùng. 

Tuy nhiên, quan niệm của Bleuler cũng đưa đến nhận thức bệnh này khó hồi phục. Vì những lẽ trên, trong lòng dân chúng bệnh Tâm thần phân liệt vẫn mang ấn tượng là do thoái hóa não và có tiên lượng xấu, mặc dù ngày nay đã có nhiều bằng chứng về sự hồi phục. Tiên lượng lạc quan về bệnh này nếu được phát hiện sớm và điều trị tích cực bằng các loại thuốc an thần kinh mới. 

Điều này minh họa sự ảnh hưởng tới ý thức dân chúng bởi những ấn tượng sai lầm của lịch sử, nhấn mạnh tới nhu cầu, loại trừ những quan điểm sai lầm bằng các biện pháp truyền thông giáo dục. Chúng ta cần quảng bá  những khiến thức khoa học hiện đại cho quần chúng nhân dân hơn là để nhũng huyễn như trong lịch sử cứ truyền tụng mãi. 

Việc xây dựng các bệnh viện tâm thần ở vùng nông thôn xa xôi đã đẩy ngành Tâm thần tách biệt khỏi ngành Y, người ta đã dùng từ alienist ( có nghĩa là tách biệt) để gọi các bác sĩ phục vụ ở các bệnh viện tâm thần. 

Vào cuối thế kỷ XIX, 1 nhánh của ngành tâm thần đã trỗi dậy 1 cách độc lập để hình thành các cơ sở chăm sóc bệnh nhân bị rối loạn do căn nguyên tâm lý (bệnh tâm căn), bệnh cơ thể do căn nguyên tâm lý (tâm thể). Các loại bệnh này 1 thời bị ảnh hưởng các học thuyết phân ly của Pierre Janet, lý thuyết này có nghĩa là sự chia cắt tư duykhỏi những hoạt động khác giúp giải thích các bệnh Histerie và quên tâm sinh. Lý thuyết phân tâm học của Sigmund Freud về cơ chế hoạt động của vô thức, ông cho rằng có 1 cơ chế dồn nén cảm xúc dục vọng, ký ức xung động…vào vô thức không để cho chúng trỗi dậy vào ý thức. Cơ chế này giải thích sự hình thành nhân cách, trong đó nhấn mạnh yếu tố dục năng và nó cũng mở ra thời kỳ phóng khoáng về tình dục trong văn học nghệ thuật, khoa học. 

Cả 2 cuộc đại chiến thế giới đều ảnh hưởng đến ngành tâm thần. Tỷ lệ cao bị “sốc đạn pháo” trong thế chiến lần thứ I đã rút ra kết luận: rối loạn tâm thần có thể xuất hiện trên 1 tập thể, không chỉ đối với người có yếu tố di truyền hoặc yếu tố bẩm sinh với bệnh tâm thần và người ta khám phá ra rằng bất cứ ai bị tác động bởi các sang chấn tâm lý đều có thể xuất hiện rối loạn tâm thần kéo dài. 

W.H.River, 1 thầy thuốc nghiên cứu lâm sàng tâm thần học của nước Anh, đã khởi xướng 1 loạt nghiên cứu lâm sàng về các rối loạn tâm thần có liên quan đến stress-sang chấn tâm lý. 

Trong thế chiến thứ II nảy sinh ra học thuyết “ưu sinh” quái đản với chủ trương triệt hạ bệnh nhân tâm thần, giết bớt và triệt sản họ để bảo tồn giống nòi, tránh sự suy thoái gene di truyền. Đức quốc xã đã thủ tiêu hàng loạt bệnh nhân tâm thần, cùng với chủ nghĩa bài trừ Do Thái, bài Digan đã gây bao thảm họa đau lòng cho nhân loại mà không hề suy giảm hay kiềm chế được tỷ lệ mắc bệnh tâm thần cho nhân loại. 

Một khía cạnh tích cực do chiến tranh mang lại là sự phát triển những kỹ thuật đáng giá các chức năng tâm lý hàng loạt cho các tân binh mới nhập ngũ, phương pháp này giúp chúng ta có được 1 số dữ liệu về chức năng tâm lý như trí tuệ (IQ), về trí nhớ…và 1 vài tỷ lệ bệnh tâm thần trong thanh niên. Một số bác sĩ tâm thần trong quân đội còn phát hiện ra liệu pháp nhóm, chỉ cần 1 thầy thuốc điều trị cho 1 nhóm bệnh nhân. Mặc khác, bệnh nhân có thể trao đổi với nhau, học hỏi nhau để chiến thắng bệnh tật. Liệu pháp cũng làm nảy sinh cái được gọi là “cộng đồng điều trị” mà ở đó mọi người trong 1 đơn vị khoa phòng đều là 1 thành phần của công tác trị liệu. 

Khoảng những năm 60-70 của thế kỷ XX đã nổ ra phong trào “chống bệnh viện tâm thần” ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là Italia đã làm tan rã những nhà thương điên qui mô lớn. Bệnh viện tâm thần_tên gọi thay cho “nhà thương điên”, đã đạt được đỉnh cao khoảng 10 năm sau khi kết thúc thế chiến thứ II. Thường các bệnh viện này có sức chứa khoảng 1000 bệnh nhân, tạo ra những quy mô không tốt lắm. Những cố gắng cải cách bị vô hiệu, nó sa vào 1 vòng lẩn quẩn, tai tiếng, công chúng chất vấn, cải tiến tạm thời rồi lại lún sâu vào nguyên trạng hoặc có khi còn tệ hại hơn. Ở đó quyền cộng dân bị tước đoạt, bệnh nhân bị trấn áp, luật lệ và các thỏa thuận thường đưa ra chỉ để bảo vệ nhân viên y tế, không được giám sát bởi cơ quan công quyền độc lập, kết hợp với việc thiếu nguồn lực kéo dài đã đưa tới những điều kiện đáng hổ thẹn. 

Tuy nhiên, cũng phải nói thêm là 1 số phát minh quan trọng đã ra đời trong môi trường bệnh viện. Ở Rome vào 1968, Ugo Cerletti và Bini đã phát minh ra liệu pháp gây sốc bằng điện (ECT). Đây là liệu pháp đơn giản, hiệu qủa còn được sử dụng cho đến ngày nay, ít tác dụng phụ. Hiệu qủa đặc biệt với các trạng thái kích động, trầm cảm có ý tưởng và hành vi tự sát, chống đối không ăn. 

Năm 1949, John Code ở bệnh viện Hoàng gia Melbourne (Australlia) đã phát hiện tác dụng điều chỉnh khí sắc của Lithium. 

Năm 1952  Jean Delay và Paul Deniker ở Paris đã phát hiện ra thuốc an thần, sau đó đến Nathan Kline phát hiện ra thuốc chống trầm cảm trên 1 số loại thuốc chống lao tại bệnh viện tâm thần ở Orange Burge gần NewYork. 

Các tiến bộ về dược lý tâm thần đã hỗ trợ cho phong trào chống nằm bệnh viện cũng như các ảnh hưởng của sự phát triển khinh tế xã hội. Đã có nhiều bệnh nhân tâm thần được ra viện điều trị ngoại trú, tìm kiếm được công ăn việc làm, tái hòa nhập được với cuộc sống gia đình và XH. 

Phong trào mới “Phi tập trung hóa_decentralization” ra đời, thu nhỏ quy mô các bệnh viện tâm thần xuống còn vài trăm giường bệnh, gắn liền với 1 vùng dân cư, có kèm theo 1 hệ thống bệnh viện bán trú (BV ban ngày, ban đêm), nhà nghỉ, khu vực hồi phục chức năng, xưởng làm việc có bảo trợ…đã mở ra nhiều cơ hội cho bệnh nhân tâm thần được phục hồi, thích nghi trở lại với cuộc sống. 

Các liệu pháp tâm lý cũng được chú trọng, liệu pháp được cải biên ngắn gọn hơn để điều trị những bệnh lý khu trú hơn, đặc thù hơn. Liệu pháp tâm lý gia đình cũng được phát triển, đặc biệt là trong lĩnh vực tâm thần nhi và tâm thần thiếu niên. Liệu pháp tâm lý tập tính nhận thức và hành vi cũng được khẳng định như 1 liệu pháp đặc biệt, có hiệu qủa đối với các rối loạn ám ảnh, sợ, lo âu, trầm cảm. Các biện pháp tâm lý gián tiếp nhằm vào việc tạo dựng môi trường sống, môi trường hoạt động , vui chơi, giải trí cho các bệnh nhân tâm thần cũng được chú trọng và phát triển không ngừng. 

Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần cũng được phát triển nhanh chóng. Nhiều chính phủ chấp nhận quan điểm các nguồn lực đầu tư để điều trị bệnh nhân tâm thần cần phải được tăng cường và đặt cơ sở dựa vào cộng đồng, phải rút ngắn thời gian nằm viện, chỉ kéo dài vài ngày sẽ thích hợp hơn so với thời gian nằm viện dài lê thê như trước đây. Các trường hợp cấp cứu cũng có thể thực hiện tại cộng đồng được thiết lập nhằm giúp đỡ bệnh nhân mãn tính và tàn tật. 

Các bệnh viện đa khoa không ngừng phát triển số lượng những khoa tâm thần để điều trị nội trú những bệnh nhân cấp tính trong thời gian ngắn. Các bệnh nhân mãn tính có rối loạn hành vi nặng cũng được quản lý tại nhà. Các kỹ thuật điều trị từ xa cũng cho phép nối liền các bệnh viện. Chính vì vậy mà quy mô bệnh viện tâm thần được thu nhỏ dần. 

Ngày nay, điều trị tại gia đình và cộng đồng được đánh giá là ưu việt hơn hco việc chăm sóc điều trị bệnh nhân tâm thần, việc nằm viện dài ngày bây giờ là không nên. Tuy nhiên trong 1 chừng mực nào đó, bệnh nhân tâm thần vẫn còn bị cô lập bởi vì ngày nay ở những khu ngoại ô, khu chung cư, phụ nữ, đàn ông, thanh niên đều đi làm, hậu qủa là việc điều trị bệnh nhân tâm thần ở cộng đồng với những nhiệm vụ tích cực mà nó có được gặp phải 1 thực tế là bệnh nhân sau khi thoát khỏi sự tù hãm ở bệnh viện tâm thần lại bị cô lập tại 1 căn hộ nào đó vắng tanh từ 6h sáng đến 6h tối. 

Càng ngày, các chính phủ trên thế giới càng ghi nhận được những tổn thất về mặt kinh tế xã hội mà bệnh nhân tâm thần gây ra, nên tổ chức Y tế thế giới-WHO trong tuyên bố toàn cầu tháng 10/2003 nói rằng: ngày nay, ¼ nhân loại (25% dân số) bị ảnh hưởng sức khỏe tâm thần (trong đó có 2% dân số bị bệnh tâm thần nặng cần phải được điều trị thường xuyên). Và để giải quyết được các vấn đề sức khỏe tâm thần mỗi quốc gia cần: 

-Đầu tư 1% ngân sách. 

-Một BS chuyên khoa tâm thần cho 100.000 dân và 1 giường bệnh tâm thần cho 10.000 dân 

Trong cuốn “Gánh nặng bệnh tật toàn cầu”, Ngân hàng thế giới-WB nhận định: đến năm 2020 bệnh tâm thần sẽ là nguyên nhân thứ 2 gây tàn tật cho con người trên thế giới và nếu không được đầu tư giải quyết, những vấn đề này sẽ tràn ngập các nước nghèo. 

Trái ngược với những đồn đại và thái độ coi thường của công chúng, xem bệnh tâm thần không thể chữa khỏi, ngành tâm thần ngày nay đang đạt được những kết qủa điều trị tương đương với các chuyên khoa khác. Tăng cường nghiên cứu, đặc biệt về phương tiện cộng đồng sẽ phát triển được các phương pháp điều trị hiệu qủa hơn. Thiên niên kỷ mới sẽ là cơ hội và cũng là thách thức lớn cho ngành sức khỏe tâm thần. 

(Theo: Bác sĩ CKII Lương Hữu Thông, “Sức khoẻ tâm thần và các rối loạn tâm thần thường gặp”,  

tài liệu dành cho cán bộ y tế, NXB Lao Động).



Nguyễn Phương (Theo BSCKII. Lương Hữu Thông)



Gửi qua YM

Gửi ý kiến của bạn về bài viết
Tên bạn: *  (Ghi đầy đủ Họ và Tên có dấu của bạn)
Email: *  (Địa chỉ Email có thật của bạn)
Nội dung *
(Hãy tiếng Việt có dấu.)
Mã kiểm tra Mã kiểm tra
Lặp lại mã kiểm tra *


Những bản tin khác:



 Tìm kiếm 
Tìm trên trang
Tìm bằng Google
 Tiêu điểm 
 Thông tin 

_THOI_TIET

 Thăm dò dư luận 
Bạn biết Website này qua đâu?

 Bạn bè
 Giới thiệu
 Báo chí
 Website khác
 Công cụ tìm kiếm



Kết quả
Những thăm dò khác

Bình chọn: 41
Thảo luận: 0
 Bài viết mới nhất 
 Hỗ trợ trực tuyến 
Trang chủ    ¤   Gửi bài    ¤   Liên hệ    ¤   Sơ đồ site    ¤   Tìm kiếm    ¤   Thăm dò dư luận

Thời gian mở trang: 0.935 giây. Số lần truy cập CSDL: 13
Bản quyền thuộc về Trang tin điện tử Bệnh viện Tâm thần Nam Định
Chịu trách nhiệm nội dung: Giám đốc Th.s Hoàng Văn Nghĩa
Địa chỉ: Đường Đệ Tứ - Phường Lộc Hạ - Tp. Nam Định - Điện thoại: 0350 3647805 - Fax: 0350 3648856
Email: bvttnd@gmail.com - Nam Định 2/9/2010
.